Hotline: 0936.288.112
 

Phân bón 7/2019 - Thị trường DAP thế giới tiếp tục giữ xu hướng đi xuống

NHỮNG NỘI DUNG CHÍNH

Thị trường Quốc tế

  • Urea thế giới: Sau hỗ trợ từ phiên thầu của Ấn Độ đóng ngày 1/7/2019, giá Ure đã điều chỉnh tăng/giảm trái chiều tại hầu hết các khu vực. Tuy nhiên, xu hướng chính trong tháng 7/2019 trên khắp các thị trường lớn chủ yếu là giá giảm do nhu cầu hạn chế.
  • Urea Trung Quốc: Trong tháng 7/2019, giá Ure nội địa Trung Quốc đã gia tăng nhẹ tại một số khu vực nhờ tác động của xuất khẩu và nhu cầu tăng nhẹ tuy nhiên sau đó đã giảm xuống. Bình quân, giá Ure nội địa giảm 10-20 NDT/tấn so với tháng 6/2019.
  • DAP thế giới: Thị trường DAP thế giới tiếp tục giữ xu hướng đi xuống trong tháng 7/2019 dù Trung Quốc cắt giảm sản lượng kéo giá DAP Ấn Độ nhích lên một vài USD vào trung tuần tháng 7.
  • DAP Trung Quốc: Kể từ đầu tháng 7/2019, các nhà sản xuất DAP Trung Quốc đã cắt giảm sản xuất nhằm ngăn chặn giá DAP xuất khẩu tiếp tục suy yếu. Tuy nhiên, giá DAP sau khi duy trì ổn định ở mức 338-340 USD/tấn FOB đã giảm trở lại 334-340 USD/tấn FOB vào đầu tháng 8/2019.
  • Kali thế giới: Trong tháng 7/2019, giá Kali thế giới tiếp tục xu hướng giảm nhẹ tại các khu vực ngoại trừ gia tăng tại Đông Nam Á.

Thị trường Việt Nam

  • Thị trường Ure tại Việt Nam đầu quý 3/2019 tiếp tục trầm lắng do nhu cầu nội địa thấp. Theo đó hoạt động nhập khẩu cũng hạn chế: các thương nhân đều thận trọng trong bối cảnh không ra được hàng. Không những thế, do thị trường nội địa khó lường nên một số nhà sản xuất đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu.
  • Nhu cầu phân bón trong tháng 8-9 dự kiến ở mức thấp (trái vụ). Giữa tháng 7/2019, khu vực Đồng bằng sông Cửu Long đã thu hoạch lúa vụ Hè Thu được khoảng 60-65% diện tích xuống giống. Trong khi đó, lúa vụ 3 tại ĐBSCL cũng đã xuống giống. Tuy nhiên, năm 2019, ước tính nhu cầu phân bón vụ 3 tại ĐBSCL giảm mạnh do các khu vực đều có xu hướng bỏ vụ 3 khá nhiều.
  • Trong tháng 7/2019, hàng DAP Hồng Hà 64% đã hạn chế nhập khẩu, TGO-Hải Phòng (Doanh nghiệp nhập khẩu hàng Vân Thiên Hóa lớn nhất) đã không có đơn hàng nào về Lào Cai.
  • Theo số liệu của Tổng Cục Thống kê, trong tháng 7/2019, Việt Nam ước tính sản xuất khoảng 217,3 nghìn tấn Ure và 272,4 nghìn tấn NPK, tương ứng tăng 11,9% và 13,4% so với cùng kỳ năm 2018. Lũy kế 7 tháng năm 2019, Việt Nam ước sản xuất đạt 1333 nghìn tấn Ure và 1668,8 nghìn tấn NPK, tăng nhẹ 0,2% và giảm 3,3% so với cùng kỳ 2018.PHẦN 1. THỊ TRƯỜNG UREA

1. Thị trường Urea thế giới

Sau hỗ trợ từ phiên thầu của Ấn Độ đóng ngày 1/7/2019, giá Ure đã điều chỉnh tăng/giảm trái chiều tại hầu hết các khu vực. Tuy nhiên, xu hướng chính trong tháng 7/2019 trên khắp các thị trường lớn chủ yếu là giá giảm do nhu cầu hạn chế.

Phiên thầu nhập khẩu Ure của Ấn Độ đóng ngày 1/7/2019 đã chốt thầu mua khoảng 1,7 triệu tấn, trong đó nguồn gốc Trung Quốc đồn đoán ở mức 750.000-1 triệu tấn. Ngoài ra, có báo cáo cho biết một số lô hàng này không kịp giao hàng trước 16/8, vì vậy, các thương nhân thiếu hàng đã nhanh chóng đặt mua các sản phẩm Ure có nguồn gốc khác. Điều này giúp hỗ trợ giá FOB ở Trung Đông và Bắc Phi trong hầu hết tháng 7/2019.

Tuy nhiên, ngoại trừ một số nhu cầu cho Ấn Độ, nhu cầu Ure tại các khu vực khác khá chậm. Giá giảm đã ghi nhận tại nhiều thị trường lớn như Ai Cập, Baltic, Biển Đen, Đông Nam Á…

Cuối tháng 7-đầu tháng 8/2019, ngoại trừ xu hướng giảm trên các thị trường thế giới tại nhiều khu vực, giá Ure gia tăng tại Hoa Kỳ và Brazil.

Giá Urea tại một số khu vực trên thế giới bình quân tuần trong năm 2019, (USD/tấn, FOB)

Cuối tháng 7-đầu tháng 8/2019, thị trường ure thế giới tiếp tục suy yếu do nhu cầu chậm. Dự kiến nhu cầu giảm kéo dài đến tháng 9/2019.

Nguồn: AgroMonitor tổng hợp

2. Thị trường Urea Trung Quốc

Trong tháng 7/2019, giá Ure nội địa Trung Quốc đã gia tăng nhẹ tại một số khu vực nhờ tác động của xuất khẩu và nhu cầu tăng nhẹ tuy nhiên sau đó đã giảm xuống. Bình quân, giá Ure nội địa giảm 10-20 NDT/tấn so với tháng 6/2019.

Trong tháng 7/2019, công suất sản xuất Ure giảm xuống do các nhà máy tạm ngưng sản xuất để bảo trì. Tuy nhiên, các nhà máy thay phiên bảo trì và lượng giảm không nhiều nên nguồn cung vẫn khá dồi dào.

Trong khi đó, về nhu cầu, một số vùng như Sơn Đông, Giang Tô,… nhờ mưa làm giảm hạn hán, lượng mua vào tăng lên trong nửa đầu tháng 7/2019. Tuy nhiên, do vụ Hè dần kết thúc, các khu vực khác tạm ngưng nhu cầu nông nghiệp; đồng thời, nhu cầu công nghiệp thấp hơn do các nhà máy sản xuất ván ép ngưng hoạt động do thanh tra môi trường. Giá Ure sẽ tiếp tục suy yếu trong tháng 8/2019

Giá Urea hạt trong xuất xưởng bình quân tại một số địa phương Trung Quốc năm 2019, (NDT/tấn)

Giá Ure nội địa Trung Quốc bình quân tháng 7/2019 giảm 10-15 NDT/tấn so với tháng 6/2019.

Nguồn: AgroMonitor tổng hợp

Lượng và kim ngạch xuất khẩu Urea của Trung Quốc trong năm 2018-2019

Trong tháng 6/2019, Trung Quốc đã xuất khẩu 140 nghìn tấn Ure, giảm 36% so với tháng 5/2019. Lũy kế 6 tháng đầu năm 2019, Trung Quốc xuất khẩu Ure tăng 147,73% so với cùng kỳ 2018.

Nguồn: TCHQ Trung Quốc

3. Thị trường Urea Việt Nam

Thị trường Ure Việt Nam trong tháng 7/2019 vẫn giữ xu hướng giảm do nhu cầu thấp tại hầu hết các khu vực.

Tại Tây Nam Bộ, các khu vực chủ yếu thu hoạch lúa Hè Thu, tuy nhiên có một số khu vực đã xuống giống vụ Thu Đông 2019 nhưng nhu cầu không đáng kể. Trong khi đó, tại các khu vực khác, nhu cầu duy trì ở mức thấp: tại miền Đông & Tây Nguyên, do nắng nóng nên nhu cầu bón phân cho cây công nghiệp lai rai, đại lý ít nhập hàng; tại miền Trung, miền Bắc đang cuối vụ Hè Thu nên nhu cầu phân bón chậm.

Trong tháng 7/2019, Ure Phú Mỹ giữ giá lệnh ở mức 7300 đ/kg, tuy nhiên một số đại lý chào bán Ure Phú Mỹ ngoài lệnh giảm xuống mức 7100-7150 đ/kg, tại kho Long An giá 7200-7250 đ/kg, tại kho Sài Gòn 7250-7300 đ/kg. Trong khi đó, Ure Cà Mau đã hạ giá lệnh 200 đ/kg xuống mức 7100 đ/kg từ ngày 18/7/2019, giá ngoài lệnh tại kho Long An cũng ở mức 7100 đ/kg. Cuối tháng 7/2019, chào giá Ure Phú Mỹ ngoài lệnh tại nhà máy còn giảm xuống mức 7000-7100 đ/kg, kho trung chuyển Cần Thơ giá 7100 đ/kg.

Diễn biến giá Ure giao dịch tại quận 7 Sài Gòn (TXS) năm 2018-2019, VND/kg

Nguồn: AgroMonitor tổng hợp (Cập nhật đến ngày 6/8/2019)

PHẦN 3. THỊ TRƯỜNG DAP
1. Thị trường DAP thế giới

Thị trường DAP thế giới tiếp tục giữ xu hướng giảm xuống trong tháng 7/2019 dù Trung Quốc cắt giảm sản lượng kéo giá DAP Ấn Độ nhích lên một vài USD vào trung tuần tháng 7.

Việc cắt giảm 40% sản lượng sản xuất DAP của Trung Quốc trong quý 3/2019 đã giúp duy trì ổn định giá DAP xuất khẩu ở mức 338-340 USD/tấn FOB trong hơn 2/3 tháng 7/2019, qua đó cũng kéo giá DAP Ấn Độ tăng 5 USD/tấn so với đầu tháng 7/2019. Tuy nhiên do xu hướng giá DAP thế giới tiếp tục giảm vì dư cung, giá DAP Ấn Độ đã giảm trở lại.

Cuối tháng 7/2019, một số nhà nhập khẩu ở Châu Á, Châu Âu, Bắc và Mỹ Latinh đã tìm cách mua hàng DAP và MAP, tuy nhiên nhu cầu không tăng nhiều nên giá DAP vẫn có xu hướng đi xuống.

Giá DAP tại một số khu vực trên thế giới bình quân tuần năm 2019 (USD/tấn, FOB)

Bình quân, giá DAP trong tháng 7/2019 đã giảm 5-20 USD/tấn so với tháng 6/2019; và thấp hơn 77-96 USD/tấn so với cùng kỳ năm 2018.

Nguồn: AgroMonitor tổng hợp

2. Thị trường DAP Trung Quốc

Kể từ đầu tháng 7/2019, các nhà sản xuất DAP Trung Quốc đã cắt giảm sản xuất nhằm ngăn chặn giá DAP xuất khẩu tiếp tục suy yếu. Tuy nhiên, giá DAP sau khi duy trì ổn định ở mức 338-340 USD/tấn FOB đã giảm trở lại 334-340 USD/tấn FOB vào đầu tháng 8/2019.

Trong nước, do nhu cầu DAP nội địa yếu do vụ Thu bắt đầu chậm, chào giá DAP nội địa vẫn có xu hướng giảm nhẹ tại một số khu vực ở miền Trung Trung Quốc, Bắc Trung Quốc. Các doanh nghiệp vẫn chủ yếu tập trung vào xuất khẩu. Tuy nhiên, nhu cầu xuất khẩu cũng không cao do thị trường DAP thế giới liên tục đi xuống.

So sánh giá DAP xuất khẩu của Trung Quốc năm 2018 và 2019 (USD/tấn, FOB)

Sau khi giữ giá DAP xuất khẩu Trung Quốc ở mức 338-340 USD/tấn FOB trong tháng 7/2019 nhờ hỗ trợ cắt giảm sản xuất, giá DAP xuất khẩu của Trung Quốc đã giảm xuống 334-340 USD/tấn FOB vào đầu tháng 8/2019.

Nguồn: AgroMonitor tổng

Lượng và kim ngạch xuất khẩu DAP của Trung Quốc năm 2018-2019

Trong tháng 6/2019, Trung Quốc đã xuất khẩu 600 nghìn tấn DAP, tăng 20% so với tháng 5/2019. Lũy kế 6 tháng đầu năm 2019, Trung Quốc xuất khẩu DAP tăng 10,45% so với cùng kỳ 2018.

Nguồn: TCHQ Trung Quốc

3. Thị trường DAP Việt Nam

Trong tháng 7/2019, giá DAP giao dịch tại thị trường Việt Nam tiếp tục xu hướng giảm kể từ đầu năm 2019 đến nay. Tính đến đầu tháng 8/2019, giá DAP bình quân đã giảm 9-14% so với tháng 1/2019.

ại Sài Gòn/Cần Thơ cho hàng về cuối tháng 7 vẫn sụt giảm: chào bán DAP xanh Tường Phong 64% ở mức 10600-10800 đ/kg (dự kiến cuối tháng có hàng về) trong khi hàng cũ tại kho vẫn giữ ở mức 11700 đ/kg.

Trong khi đó, hàng DAP Hồng Hà 64% đã hạn chế nhập khẩu. Đối với hàng kho tại Sài Gòn/Cần Thơ, tính đến cuối tháng 7-đầu tháng 8/2019, chào giá DAP xanh Hồng Hà 64% đã giảm 350-400 đ/kg so với cuối tháng 6/2019

Diễn biến giá DAP giao dịch tại quận 7 Sài Gòn tháng 7/2018-8/2019, đ/kg

Nguồn: AgroMonitor tổng hợp; tháng 8/2019 tính đến 6/8/2019

PHẦN 4. THỊ TRƯỜNG KALI
1. Thị trường Kali thế giới

Trong tháng 7/2019, giá Kali thế giới tiếp tục xu hướng giảm nhẹ tại các khu vực ngoại trừ gia tăng tại Đông Nam Á.

Trong tháng 7/2019, nhu cầu tiêu thụ Kali tại các thị trường lớn khá chậm, các nhà cung cấp hạ giá nhằm giảm áp lực bán hàng. Tại Đông Nam Á, nhu cầu giảm ở Thái Lan, Malaysia và Indonesia. Trong khi ở Châu Âu và Brazil, thị trường khá yên tĩnh.

Thị trường Kali thế giới yên ắng chờ đợi hợp đồng lớn được ký kết ở Trung Quốc và Ấn Độ.

Giá MOP tại một số khu vực trên thế giới bình quân tuần năm 2019 (USD/tấn FOB, CFR)

Trong tháng 6/2019, giá Kali tiếp tục giảm nhẹ do tồn kho cao trong khi nhu cầu thấp. Tuy nhiên, tại thị trường Đông Nam Á, giá MOP đã tăng nhẹ trở lại vào cuối tháng 6/2019.

Nguồn: AgroMonitor tổng hợp

Đối với Trung Quốc, nhập khẩu MOP tại Trung Quốc đã tăng mạnh trong 5 tháng đầu năm 2019 và bắt đầu chậm lại từ tháng 6/2019. Tuy nhiên, do nhu cầu phân bón chậm nên tồn kho Ure tại cầu cảng duy trì ở mức cao trên 2,5 triệu tấn. Áp lực nguồn cung lớn. Chào giá Kali tại cầu cảng đã giảm xuống.

Tại biên giới, trong tháng 7/2019 tiếp tục không có các đơn hàng nhập khẩu hàng tháng được ký kết do không đạt được thỏa thuận với các thương nhân Nga, nguồn cung giảm, giá Kali trắng 62% tăng nhẹ 50 NDT/tấn

Lượng và kim ngạch nhập khẩu MOP của Trung Quốc năm 2018-2019

Lượng MOP nhập khẩu của Trung Quốc trong tháng 6/2019 đã giảm 32% so với tháng 5/2019 tuy nhiên lũy kế 6 tháng đầu năm 2019, Trung Quốc nhập khẩu MOP tăng 22,31% so với cùng kỳ 2018.

Nguồn: TCHQ Trung Quốc

2. Thị trường Kali Việt Nam

Giá Kali giao dịch tại thị trường Việt Nam trong tháng 7/2019 tương đối ổn định do nhu cầu không được cải thiện.

Trong tháng 7/2019, Kali Israel miểng chào tại kho Sài Gòn không đổi so với cuối tháng 6/2019 ở mức 8000-8050 đ/kg, Kali Phú Mỹ miểng 7900-8000 đ/kg. Đầu tháng 8/2019, chào giá Kali đã giảm nhẹ 100-150 đ/kg.

Giá Kali tại quận 7 Sài Gòn, tháng 7/2018 –8/2019, đồng/kg

Nguồn: AgroMonitor tổng hợp; tháng 8/2019 tính đến 6/8/2019

PHẦN 5. SẢN XUẤT- XUẤT-NHẬP KHẨU

Theo số liệu của Tổng Cục Thống kê, trong tháng 7/2019, Việt Nam ước tính sản xuất khoảng 217,3 nghìn tấn Ure và 272,4 nghìn tấn NPK, tương ứng tăng 11,9% và 13,4% so với cùng kỳ năm 2018. Lũy kế 7 tháng đầu năm 2019, Việt Nam ước sản xuất đạt 1333 nghìn tấn Ure và 1668,8 nghìn tấn NPK, tăng nhẹ 0,2% và giảm 3,3% so với cùng kỳ 2018.

Sản lượng Urea và NPK của Việt Nam trong tháng 7/2019, nghìn tấn

 

Thực hiện T6/2019

Ước tính T7/2019

7T/2019

T7/2019 so với T7/2018 (%)

7T/2019 so với 7T/2018 (%)

Urea

202.7

217.3

1333.2

111.9

100.2

NPK

254.5

272.4

1668.8

113.4

96.7

 

Nguồn: TCTK

Chỉ số sản xuất công nghiệp ngành hoá chất và sản phẩm hóa chất tháng 7/2019, %

Tên ngành

T7/2019
so với T6/2019

T7/2019 so với T7/2018

7T/2019 so với 7T/2018

Sản xuất hoá chất và sản phẩm hoá chất

105.0

111.4

106.7

 

Nguồn: TCTK

Sản lượng sản xuất Ure, DAP và NPK của Việt Nam năm 2018-2019, nghìn tấn

Nguồn: AgroMonitor tổng hợp của GSO, MOIT; (*): số lượng ước tính

 

PHẦN 6. NHẬP KHẨU VÀ DOANH NGHIỆP NHẬP KHẨU PHÂN BÓN VIỆT NAM

Lượng và kim ngạch nhập khẩu phân bón của Việt Nam từ tháng 6/2018-7/2019

Lũy kế 7 tháng đầu năm 2019, Việt Nam ước nhập khẩu khoảng 2,34 triệu tấn phân bón, giảm 11% về lượng so với cùng kỳ năm 2018.

Nguồn: TCHQ (Tháng 7*/2019: Ước tính của TCTK)

Lượng và kim ngạch nhập khẩu phân bón của Việt Nam theo chủng loại tháng 6/2019

Chủng loại

T6/2019

Lượng, tấn

Trị giá, USD

SA

51,229

6,374,612

DAP

49,160

19,579,552

Kali

44,530

12,768,150

NPK

43,687

17,707,600

Khác

38,007

9,306,081

Ure

27,991

8,013,318

MAP

8,361

2,908,979

Ammonium Chloride

3,851

584,420

Phân lân trắng

3,187

210,694

Ammonium Nitrate

2,519

1,285,100

Phân bón lá

590

895,699

MKP

478

541,199

CAN

213

63,618

Tổng

273,802

80,239,020

Nguồn: SLHQ

Lượng và kim ngạch phân bón nhập khẩu của Top 10 DN nhập khẩu phân bón của Việt Nam tháng 6/2019